Truyện Con cóc và trời mưa - 비를 내리게 한 두꺼비


Du học hàn quốc Minh Đức

Du Học Hàn Quốc

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 541

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 18821

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1069369

Trang chủ » Tin du học » HỌC TIẾNG HÀN QUỐC

Truyện Con cóc và trời mưa - 비를 내리게 한 두꺼비

Thứ tư - 09/01/2019 21:47

Chắc hẳn bạn đã quá quen thuộc với câu chuyện ngụ ngôn Việt Nam kể về chú cóc dũng cảm đi “kiện” ông trời cho mưa xuống trần gian. Hãy cùng Hàn Ngữ SOFL đọc câu chuyện này bằng tiếng Hàn nhé!

 

 

truyen con coc va troi mua

Truyện con cóc và trời mưa!

 

→ Con cóc và trời mưa - 비를 내리게 한 두꺼비

옛날 아주 먼 옛날이었어.

Ngày xửa ngày xưa tại một vùng quê hẻo lánh nọ

오랫동안 비가 내리지 않아 시냇물은커녕

đã rất lâu mà chưa hề có một giọt mưa nào rơi xuống, ngay cả nước suối

바닷물까지 다 말라 버려 먹을 물조차 구할수 없게 뒤였단다.

và nước biển cũng đều khô cạn, mọi sinh vật không có nước uống.

→ 땅이 쩍쩍 갈라지고 사람도, 동물도, 식물도 모두 시둘시둘 말라 가고 있었지

Đất đai nứt nẻ, vạn vật thì uể oải chán chường.

→ 참다못한 두꺼비가 땅 밖으로 펄쩍 뛰어나왔어

Chịu không nổi khô hạn. Một hôm, Cóc nhảy ra ngoài và nói:

→ “더 이상 참을 수 없어요. 왜 비를 내려 주지 읺는지

Không thể chịu đựng thêm được nữa!

→ 하늘나라에 올라가 하느님에게 물어봐야겠어!”

Ta phải lên trời để hỏi Ngọc Hoàng cho ra lẽ mới được!”

→ 두꺼비는 곧비로 길을 떠날단다.

Cóc vội vàng lên đường ngay sau đó.

→ 그런데 막 언덕을 지날 때었어.

Khi Cóc đang mải miết leo lên con dốc to

→ 게 한 마리가 힘들게 언덕을 오르고 있는 거야. 게는 마실 물을 찾다 싶어

Nó gặp một con cua trông có vẻ mệt mỏi, nó cũng đang đi tìm nước uống.

→ 혼자 가기 심심 했는데, 마침 잘 됐다 싶어 두꺼비는 게에게 같이 가지 않겠냐고 물었지.

Đi một mình thì buồn và cũng muốn được việc, nên Cóc hỏi Cua có muốn đi cùng hay không.

→ “그래? 하늘나라에 간다고? 좋아, 좋아!”

→ “Thế à? Lên trời ư? Hay quá! Hay quá!”

→ 게는 단번에 두꺼비를 따라나섰단다.

Thế là Cua cùng với Cóc cùng lên đường.

→ 둘은 정답게 길을 갔지.

Cả hai vừa đi vừa hỏi thăm đường.

→ 그런데 시냇가를 지날 때였어. 물고기 한 마리가 말라 버린 시내 한가운데서 파덕거리 고있는 거요.

Khi đi ngang qua một con suối nhỏ, Cua và Cóc thấy Cá đang nằm giãy đành đạch giữa dòng suối khô cạn nước.

→ 물고기는 점점 기운을 잃어 가고 있었단다.

Cá trông có vẻ càng lúc càng đuối sức.

→ “나도 우리랑 함께 가지 않겠니?”

“Cóc hỏi Cá: “Bạn có muốn đi lên trời cùng chúng tôi không?”

→ 두꺼비의 말을 들은 물고기는 기운을 차리더니 함께가겠다고 했어.

Nghe Cóc nói xong, Cá thấy khỏe khoắn hẳn và đồng ý đi cùng :

→ “좋아, 좋아. 나도 꼭 다지고 싶었어!”

“Hay quá. Tôi cũng muốn rời khỏi chỗ này!”

→ 두꺼비는 게와 물고기와 함께 길을 따나게 되었단다.

Sau đó Cóc, Cua và Cá cùng lên đường ra đi.

→ 그런데 두꺼비와 게와 물고기가 슾으로 둘어섰을 때었지. 커다란 호랑이 한 마리가 긴 혀를 쑥 빼고 앉아 있는 게 아. 니겠다?

Cóc, Cua và Cá đi vào trong rừng sâu thì gặp một con Hổ to đùng đang thè lưỡi dài mệt mỏi. Cóc bèn hỏi:

→ “호랑이야!왜 그러고 있다?”

“Hổ à, sao trông bác mệt mỏi thế?”

 

→ “목도 마르고 너무 더워서… 그런데 너희둘은 어디 가는 거니?”

“Vừa khô lại vừa nóng quá… Mà các bạn đi đâu thế?”

→ 축 처진 호랑이가 느릿느릿 물었지.

Hổ hỏi một cách chậm chạp ủ rũ nghiêng mình xuống.

→ “왜 비를 내려 주지 않는지 물어보러 하늘나라에 가는 길어야.”

“Chúng tôi lên thiên đình hỏi Ngọc Hoàng vì sao không cho mưa xuống đây?”

→ 두꺼비의 말에 호랑이가 씩 웃으며 물었어:

Nghe Cóc nói xong Hổ cười rồi nói:

→ “그래 나도 너희랑 함께가도 될까?”

“Thế à? Thế mình đi cùng các bạn có được không?”

→ 이렇게 해서 두꺼비는 게와 물고기와 호랑이를 데리고 다시 길을 떠났어.

Thế là Cóc, Cua và Cá cùng với Hổ lại lên đường ra đi.

→ 그런데 얼마 가지않아 여우와 벌을 만넜는데,

Một lúc sau cả bọn gặp Ong và Cáo,

→ 여우와 벌을도 따라가겠다고 나서는 거야.

Cả Cáo và Ong cũng đều muốn tham gia đi cùng,

→ 그래서 두꺼비는 게와 물고기와 호랑이와 여우와 벌과 함께 하늘나라로 가게 되었단다.

Cho nên Cóc, Cua, Cá, Hổ, Cáo và Ong cùng nhau tìm đường lên trời.

→ “휴우, 다 왔다!”

“Chà! Đến nơi rồi!”

→ 두꺼비 일행은 마침내 하늘나라에 도착했어.

Đoàn Cóc cuối cùng cũng lên trời.

→ 하지만 하늘나라에 왔다고 모두 하느님을 만날 수 있는 게 아니었어.천둥신과 겨뤼 이겨야만 했거든.

Tuy nhiên lên đến trời rồi tất cả vẫn không gặp được Ngọc Hoàng. Muốn gặp được Ngọc Hoàng thì tất cả phải đấu thắng được thần Sấm.

→ “게야, 너는 저 물항아리 속에 숨어. 벌 너는 저 문틈에 숨고, 야우는 여기에 엎드려 있고, 물고기는 부엌에 숨어 있

어...”

Cóc ra lệnh: “Cua à, bạn nấp vào trong cái lọ kia đi, Ong bạn nấp sau cánh cửa kia, còn Cáo hãy đứng ở chỗ này, Cá hãy nấp vào trong bếp…”

→ 두꺼비의 지사에 따라 모두들 자리를 잡았어.

Theo chỉ thị của Cóc tất cả đã vào đúng vị trí.

→ 그런 뒤 두꺼비는 큰 방망이를 들어 하늘나라의 문 앞에 있는 종을 울렸단다.

Rồi Cóc cầm dùi cui lớn đến trước cổng trời đánh chuông vang dội.

→ 땡! 땡! 땡!

Tùng! Tùng! Tùng!

→ 종소리가 울리자 천둥신이 나타났지.

Nghe tiếng chuông thần Sấm xuất hiện.

→ 천둥신은 두꺼비를 보자마자 닭을 불렀어.

Thần Sấm nhìn thấy Cóc xong liền gọi vội Gà.

→ “닭아, 저 두꺼비를 쪼아 버려라!”

“Gà! Lập tức đuổi con Cóc kia đi cho ta!”

→ 천둥신의 말이 떨어지기가 무섭게 닭이 달려들었어.

Con Gà không dám cãi lại thần Sấm

→ 하지만 두꺼비 근처에도 가지 못하고 여우에게 잡혔지.

Nhưng con gà không dám lại gần vì sợ Cáo bên cạnh Cóc bắt mất.

→ 그래서 이번엔 개를 불렀어. 하지만 개는 한 번 컹 짖지도 못하고 호랑이에게 잡히고 말았어.

Thần Sấm lại gọi Chó đến. Tuy nhiên Chó không dám giở trò vì có Hổ chực sẵn ở đó.

→ 이쯤 되자 천둥신이 직접 나섰어

Đến lúc này thì thần sấm trực tiếp ra tay.

→ “안 되겠다. 내가 직접 상대해 주마!”

“Không ổn rồi. Ta phải trực tiếp ra tay thôi!”

→ 천둥신은 번쩍거리는 천둥 도끼날을 치켜들고 두꺼비에게 달려들었단다. 하지만 천둥신이 두꺼비 앞에 다다르기도

→ 전에 벌이 날아와 마구 쏘아 댔어.

Thần Sấm giơ cao rìu lên định làm sấm để hù dọa Cóc. Thế nhưng thần Sấm chưa kịp ra tay thì Ong bay ra và chích vào thần Sấm.

→ “앗, 따가워!”

“Á, đau quá!”

→ 천둥신은 허겁지겁 부엌으로 달려갔지.

Thần Sấm vội vã chạy vào trong bếp

→ 재를 뿌려 벌을 쫓으려고 말이야.

lấy tro vẩy vào Ong

→ “옳지, 재가여기 있군.”

“A, tro ở đây rồi.”

→ 천둥신은 재를 발견하고 한 움큼 집으려고 했어. 이때 부엌에 숨어 있던 물고기가 잽싸게 나와 꼬리를 재에 대고 살랑

→ 살랑 부채질을 했어.

Thần Sấm tìm thấy và định bốc một nắm tro thì ngay lúc đó Cá từ trong bếp nhảy vọt ra dùng đuôi vẫy sạch đống tro.

→ “아이쿠, 이게 뭐야?”

” Ui chao, cái gì thế?”

→ 재를 뒤집어쓴 천둥신응 눈을 씻어 내려고 옆에 있던 물항아리에 손을 집어넣었단다

Thần Sấm bị dính tro vào mắt vội chạy tới thò tay vào lu nước bên cạnh để vốc nước.

→ 그때 항아리에 숨어 있던 게가 천둥신의 손을 힘껏 물었어.

Ngay lập tức Cua từ trong lu dùng Càng kẹp chặt tay của thần Sấm.

→ “아이고, 아야!”

“Áaaaaaaaaaaa!”

→ 천둥신은 걸음아 날 살려라 하고 꽁지 빠지게 도망쳤어.

Thần Sấm năn nỉ van xin Cua tha mạng

→ 그래서 하늘나라 문이 스르르 저절로 열렸단다.

Cửa thiên đình được nhẹ nhàng mở ra.

→ 드디어 하느님을 만날 수 있게 된 거야.

Cuối cùng cả đoàn có thể diện kiến Ngọc Hoàng.

→ 두꺼비는 하느님 앞에 나가 정중히 인사를 했어.

Cóc tiến đến trước mặt Ngọc Hoàng kính cẩn chào hỏi

→ 그러고는 또박또박 따지기 시작했지.

Và bắt đầu tâu với Ngọc Hoàng một cách từ tốn.

→ “히느님, 어찌하여 몇 년이 지나도록 비를 내리지 않으십니까?

“Thưa Ngọc Hoàng, đã bao năm trôi qua rồi vì sao lại không thấy mưa?

→ 지금 저 아래 세상은 물이 없어 모두 말라 줄을 지경입니다.”

Hiện nay muôn dân chúng con dưới hạ giới đều chết khô chết khát vì không có nước ạ.”

→ 하느님은 두꺼비의 용기에 감탄하며 말했어:

Ngọc Hoàng cảm phục sự gan dạ của Cóc và phán rằng:

→ “오, 그랬구나. 다른 일로 바빠 깜빡 잊고 있었단다.

“Ô, thế à, ta mãi theo việc quên mất”

→ 지금 당장 비를 내리게 하늘 용을 보내 주마.”

Từ bây giờ ta sẽ sai rồng phun nước xuống trần gian.”

→ 하느님의 말을 들은 게와 물고기와 호랑이와 여우와 벌은 만세를 부르며 얼싸안았단다.

Sau khi nghe Ngọc Hoàng phán,cả bầy mừng rỡ ôm nhau và cùng cám ơn Ngọc Hoàng.

→ “참, 앞으로도 오래 비가 내리지 않거든 두꺼비 네가 이를 갈아 신호를 보내거라. 그럼 언제든 비를 내려 주겠다.”

“Từ bây giờ nếu chưa thấy mưa xuống thì Cóc nhớ kêu để báo hiệu cho ta nhé.Như thế thì ta cho mưa xuống.”

→ 두꺼비 일행이 하늘나라에서 돌아와 보니,

Cả bầy từ thiên đình trở về hạ giới

→ 정말 땅을 온통 적시고도 남을 만큼 비가 내렸더래.

Lập tức thấy mưa tuôn xối xả và mọi người vui mừng hớn hở.

→ 그때부터 베트남 사람들은 두꺼비가 이를 갈면 비가 내린다고 믿게 뒤었단다.

Kể từ đó người dân Việt Nam tin rằng mỗi khi nghe Cóc nghiến răng báo hiệu thì biết rằng mưa sắp đến.

Bạn có muốn đọc thêm những câu chuyện ngụ ngôn ý nghĩa bằng tiếng Hàn để cải thiện vốn từ vựng tiếng Hàn của mình không? Hãy để lại bình luận bên dưới. Hàn Ngữ SOFL sẽ giúp bạn. Chúc bạn học tiếng Hàn thật vui vẻ.

Tác giả bài viết: Truyện Con cóc và trời mưa - 비를 내리게 한 두꺼비

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến

    Miss Điệp

    0962 461 288
  • Miss Thùy Dung

    0967 461 288
  • Miss Loan

    0986 841 288

Video học tiếng Hàn

Qc1